Rss Feed

So sánh ứng dụng biện pháp công trình cứng và hệ thống VS (trồng cỏ Vetiver) trong giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ cơ sở hạ tầng giao thông

Đăng lúc: Thứ sáu - 13/12/2013 09:01 - Người đăng bài viết: system
Môi trường xanh PhanPhan (covetiver.com) là một trong những đơn vị luôn hướng đến những công nghệ tiết kiệm, thân thiện môi trường, dễ sử dụng, nhưng hiệu quả xử lý cao.

1. Một số dạng thiên tai có thể trồng cỏ Vetiver giảm tác hại.

Ngoài xói mòn, rửa trôi đất dốc, rất nhiều dạng thiên tai khác có thể ứng dụng cỏ Vetiver để giảm nhẹ tác hại, thí dụ trượt lở, sạt lở sườn dốc, taluy đường, xói lở bờ sông, bờ kênh mương, xói lở, sạt lở đê, đập….



Trượt lở không chỉ gây ra những thiệt hại trực tiếp, các biện pháp khắc phục cũng rất tốn kém và Nhà nước không đủ kinh phí cho những công việc này. Hiển nhiên là ngân sách Nhà nước luôn thiếu và do vậy, công tác chống sạt lở, bảo vệ taluy đường, xây kè đắp đê... thường mang tính cục bộ, chỉ ở những nơi xung yếu nhất, chắc chắn không bao giờ đủ để bảo vệ tất cả những đoạn đường, bờ sông, bờ biển cần bảo vệ. Tóm lại là sức người, sức của nhỏ bé hơn nhiều so với thiên tai, và có lẽ, đã đến lúc cần xem xét lại chiến lược phòng chống thiên tai truyền thống, chỉ chú trọng đến những biện pháp công trình cứng, cục bộ và tốn kém như hiện nay.

Các sự cố nêu trên đều là điển hình của hiện tượng “mất ổn định mái dốc” (hoặc sườn dốc), khi đất đá bở rời di chuyển xuôi xuống dốc dưới tác động của trọng lực. Những dịch chuyển này có thể diễn ra rất chậm, khó nhận biết bằng mắt thường, nhưng cũng có thể rất nhanh, chỉ trong vòng vài phút hoặc thậm chí vài giây. Có nhiều nguyên nhân gây ra các dạng thiên tai này, và do vậy, để giảm nhẹ tác hại của chúng, đặc biệt là bằng biện pháp kỹ thuật sinh học-hệ thống VS- ta cần làm quen với một số nguyên lý ổn định mái dốc.





2. So sánh việc xử lý, khắc phục hậu quả trượt lở bằng biện pháp công trình cứng và dùng kỹ thuật sinh học (hệ thống VS)

Đối với sườn dốc tự nhiên, có thể xử lý, khắc phục hậu quả một số điểm trượt lở, chẳng hạn bằng biện pháp thoát nước, tháo khô nước cho cả khối trượt, giảm áp lực nước lỗ hổng trong khối trượt, ngăn chặn trượt lở tiếp tục xảy ra. Mọi điểm trượt lở xảy ra dọc các đường giao thông hoặc một số địa điểm quan trọng khác đều cần xử lý và công việc này thường tốn kém. Nếu áp dụng đúng, biện pháp thoát nước mặt, nước ngầm sẽ rất hiệu quả. Nhưng tiếc rằng biện pháp này không được coi trọng. Thay vào đó người ta lại chọn những biện pháp phức tạp, tốn kém hơn nhiều mà thực tế cho thấy hiệu quả đạt được rất thấp.

Biện pháp công trình cứng

Hiện tại Việt Nam, biện pháp bảo vệ bờ sông, bờ biển, ổn định mái dốc phổ biến nhất là các biện pháp công trình cứng, cục bộ, chẳng hạn như kè bằng đá hộc, bê tông, mỏ hàn, tường chắn… Chúng đã và đang được áp dụng hàng mấy thập kỷ nay, và trượt lở, xói mòn vẫn tiếp tục xảy ra, ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Vậy nhược điểm chính yếu nhất của chúng là gì?

Xét từ góc độ kinh tế, những biện pháp này rất tốn kém như đã nêu trên, và ngân sách nhà nước dành cho những công việc này là không bao giờ đủ. Từ góc độ kỹ thuật và môi trường, có thể nêu thêm một số trở ngại như sau:

-          Cần phải khai thác đá hoặc các nguyên liệu làm bê tông từ một nơi nào đó, gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường
-          Các biện pháp công trình cứng bảo vệ bờ sông, bờ biển không hấp thụ được bớt năng lượng của sóng/dòng chảy. Chính xác hơn,chúng khiến dòng chảy/sóng rối thêm, do đó còn làm gia tăng thêm xói lở. Ngoài ra , những công trình này thường có tính cục bộ, kết thúc đột ngột, không chuyển tiếp từ từ sang phần bờ tự nhiên. Kết quả chúng chỉ lái tai biến xói lở đến một vị trí khác, ở phía bờ đối diện hoặc phía hạ lưu. Như  thế tai họa lại còn trầm trọng hơn. Một số trường hợp như vậy đã từng xảy ra ở nhiều nơi thuộc các tỉnh ven biển Miền Trung.
-          Các biện pháp công trình cứng, cục bộ thường đưa thêm vào hệ thống sông một lượng lớn đá hộc, xi măng, cát và thải ra sông một lượng lớn đất đá, khiến dòng chảy bị chuyển, đáy sông nông dần, cuối cùng làm trầm trọng thêm tai biến lũ lụt, xói lở, bồi lắng. Điều này đúng với Việt Nam khi các đơn vị thi công thường đổ đất đá thải xuống sông. Trong một số trường hợp khác, đá hộc được trực tiếp thả xuống nước để gia cường phần chân bề đang mất ổn định.
-          Các công trình cứng không tương hợp với nền đất mềm yếu, dễ xói lở bên dưới. Dưới sực nặng của công  trình, nền đất bên dưới bị lún hoặc bị rửa trôi, làm nứt vỡ, lún, dẫn đến phá hủy lớp cứng phủ trên. Người ta đã thử thay các bản vẽ bê tông bằng các lớp đá hộc kết hợp với vải địa kỹ thuật nhưng vẫn không chấm dứt được các hiện tượng lún và xói ngầm. Hiện tượng này đã và đang xảy ra ở rất nhiều nơi, điển hình là trường hợp đê biển Hải Hậu với cả một đoạn đê lát đá khan bị vỡ do xói ngầm bên dưới.
-          Các công trình kè cứng, cục bộ chỉ có thể giúp giảm bớt xói lở bề mặt. Chúng không có tác dụng nếu xảy ra trượt lở lớn với mặt trượt năm sâu bên dưới.
-          Tường chắn bê tông hoặc đá xây là biện pháp ổn định mái dốc phổ biến nhất dọc các tuyến đường giao thông. Tuy nhiên phần lớn đây chỉ là biện pháp thụ động, chờ trượt lở xảy ra thì những tường chắn này cũng đổ theo như từng thấy ở khá nhiều nơi dọc tuyến đường Hồ Chí Minh.
-          Trong một số ứng dụng khác, thí dụ như bảo vệ các đụn cát, các công trình kè đá cứng không phù hợp. Ấy vậy mà chúng vẫn được xây dựng ở một số nơi, chẳng hạn một số trên tuyến đường ven biển Phú Yên – Bình Định.

Hệ thống VS (trồng cỏ Vetiver)

Ưu điểm:

-          Ưu điểm của hệ thống Vs so với biện pháp công trình truyền thống (công trình cứng) là giá thành và hiệu quả mạng lại. Chẳng hạn áp dụng VS vào ổn định, bảo vệ mái dốc ở Trung Quốc đã giúp tiết kiệm chi phí tới 85-90%(Xia, 1997) . Ở Ôxtrâylia, so với các biện pháp công trình truyền thống, hệ thống VS giúp tiết kiệm tới 64 -72% (Braken and Truong, 2001). Tóm lại, chi phí tối đa cho VS cũng chỉ bằng khoảng 30% so với các biện pháp truyền thống.
-          Cũng như các biện pháp kỹ thuật sinh học khác, hệ thống VS rất thân thiện với cảnh quan, môi trường, rất “xanh” so với những biện pháp công trình truyền thống dùng bê tông, đá, sắt thép….Điều này đặc biệt quan trọng ở các đô thị, nơi môi trường xuống cấp do các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng.
-          Chi phí duy tu, bảo dưỡng hệ thống VS rất thấp. Khác với các biện pháp công trình khác bắt đầu xuống cấp từ khi đưa vào sử dụng, hiệu quả của biện pháp kỹ thuật sinh học lại tăng dần theo thời gian, khi lớp phủ thực vật dần trưởng thành. Hệ thống VS cần được chăm sóc, bảo vệ tốt trong khoảng 1-2 năm đầu, nhưng khi đã mọc tốt thì hầu như không cần trông coi nữa. Do vậy, biện pháp này đặc biệt thích hợp với những vùng xa xôi hẻo lảnh, việc duy tu, bảo dưỡng khó triển khai và tốn kém.
-          Đặc biệt hiệu quả với đất cằn cỗi và đất dễ bị xói mòn, rửa trôi.
-          Đặc biệt thích hợp với những vùng yêu cầu chi phí nhân công thấp…

Nhược điểm:

-          Nhược điểm chính của hệ thống VS là cỏ Vetiver không chịu được bóng râm, nhất là ở giai đoạn đầu. Dưới bóng râm, một phần cỏ Vetiver sẽ chậm lớn; và trong bóng râm hoàn toàn, thậm chí nó bị lụi hẳn do mất khả năng cạnh tranh với các giống cây cỏ khác thích nghi với bóng râm. Tuy nhiên nhược điểm này ở một khía cạnh nào đó lại rất hữu ích, thí dụ trong một số trường hợp, người ta cần một giống cây tiên phong, tạo điều kiện ổn định và cải thiện môi trường cho các giống cây khác mọc tiếp, và sau đó thì không cần đến giống cây tiên phong đó nữa.
-          Các hang cỏ Vetiver trồng theo đường đồng mức chỉ phát huy tác dụng khi cây đã phát triển tốt. Do vậy cần có một khoảng thời gian dự phòng, khoảng 2-3 tháng nếu thời tiết ấm áp và 3-4 tháng nếu thời tiết lạnh, để cỏ đạt tới độ phát triển tốt. Có thể khắc phục vấn đề này bằng cách trồng sớm vào mùa khô.
-          Cỏ Vetiver chỉ thực sự phát huy tác dụng nếu chúng tạo thành hàng tào kín. Do vậy, các khoảng trống giữa các khóm trong hàng cần được trồng giặm kịp thời.
-          Việc trồng, tưới nước và chăm sóc gặp khó khăn ở những taluy cao và dốc.
-          Cần bảo vệ, không cho trâu bò phá hoại trong thời gian đầu.




3. Kết Luận

Kết quả nghiên cứu cũng như áp dụng công nghệ VS (trồng cỏ Vetiver) đã cho thấy một biện pháp kỹ thuật sinh học rất hiệu quả và kinh tế trong việc ổn định mái dốc, giảm nhẹ trượt lở, xói lở bờ sông, bờ biển, bảo vệ công trình….có rất nhiều ưu điểm và rất ít nhược điểm. Trên thế giới đã và đang có rất nhiều nước sử dụng hệ thống VS, thí dụ Ôxtrâylia, Brasil, Trung Quốc, Ethiopia, Ấn Độ, Italia, Malaysia, Philippin, Nam Phi, Sri Lanka, Venezuela, Nepal….Thực  tế mấy năm qua nước Việt Nam cũng cho thấy, hệ thống VS đã và đang phát triển rất nhanh, và thực sự rất có hiệu quả trong những lĩnh vực kể trên. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, để thực sự phát huy được tác dụng, cần đáp ứng một số yêu câu về giống, thiết kế cũng như kỹ thuật trồng và chăm sóc phù hợp.

Mọi tư vấn thiết kế và cung cấp cỏ giống Vetiver
Liên hệ: Ks. Phan Thanh Tùng
DĐ: 094 497 1257
Email: covetiver.com@gmail.com
Web: covetiver.com

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 39 trong 8 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Liên hệ

Ks. Tùng

DĐ: 094 497 1257
Mail: covetiver.com@gmail.com
Skype: phanphangroup

 
 Ks. Ba

Kỹ Thuật
DĐ: 096 893 1890
Mail: covetiver.com@gmail.com

 

Giỏ hàng